Mách bạn sáu cách để đạt bokeh (những đốm tròn của sự phản xạ ánh
sáng gây ra nơi vùng không nét trong ảnh) tốt hơn, thậm chí bokeh
đẹp.
Khi chọn giải pháp thu hẹp vùng ảnh rõnhằm tách chủ thể ra khỏi bối cảnh,
nhiều nhà nhiếp ảnh đãkhông để tâm đến tính thẩm mỹ mà bối cảnh tạo ra được sau
khi bị làm mờ.
Đó là sai lầm lớn, vì dù sao thì
những vùng mờ nhòe đó, vẫn có tiếng nói, vẫn mang hơi
thở riêng của nó, và nếu chỉ dành thêm chút quan tâm cho nó, tác phẩm hình thành
sẽ tuyệt vời hơn rất nhiều.
 |
|
Những vòng sáng nơi hậu cảnh, như hòa trộn
vào với tâm trạng của chàng thanh niên, vớiánh nhìn tự tin, nhưđang chờ
ai,đợi ai, nhưng lòng trànđầy hạnh phúc...Ảnh: anton
khoff |
Bokeh là một thuật ngữ dùng để nói về những đốm tròn của sự
phản xạ ánh sáng (có thể nằm ở tiền cảnh, hoặc hậu cảnh - thường ở hậu cảnh
nhiều hơn) gây ra nơi vùng không nét trong ảnh. Khi những đốm này
"càng tròn bao nhiêu", bokeh càng đẹp bấy nhiêu. Chính vì thế mà
khi chế tạo ống kính, nhất là những ống kính tele, người ta sẽ dùng nhiều lá lam
khẩu độ hơn, và đường bao phía trong được làm uốn lượn cong nhiều hơn, nhằm cho
ra những bokeh thật tròn ở mọi khẩu độ.
 |
|
Việc chọnđiểm lấy nét ngay chỗ có hàng số
1817, mà không phải nơi bàn tay, nhằm đưa ra thông điệp rằng việc tìm kiếm chưa
thể kết thúc, thậm chí là "không có hồi kết". Ảnh: David
Wetty |
Có sáu cách
vận dụng các biến số
để điều khiển
vùng ảnh rõ, hầu đạt được hiệu năng cao nhất theo ý
muốn.
1. Vận dụng khẩu độ
Khẩu độ càng mở lớn, vùng ảnh
rõ càng mỏng, và người chụp chỉ việc mở lớn khẩu độ ra, thậm chí
mở hết, để hậu cảnh có được độ mờ nhiều nhất. Những ống kính zoom thường có độ
mở lớn nhất "không lớn lắm" (thường chỉ là f/2.8), nên hiệu ứng mờ của hậu cảnh
không tốt bằng
những ống kính có tiêu cự cố định (fix,
hay prime lens), thường có độ mở lớn nhất, cao hơn khá nhiều, như
f/2,
f/1.8, f/1.4, f/1.2..., thậm chí f/0.9.
 |
|
Việc chọnđiểm lấy nét ngay những ngọn nến
khiến ngườixemảnh không chỉ quantâmđến cặpđôi hạnh phúc, mà còn hiểu thêm
rằng họđãđến tiệcđêm.
Ảnh: David
Wetty |
 |
|
Theo nguyên lý quang học của vùngảnh rõ,
"vùng nét phải song song với mặt phẳng chứa phim, hay cảm biến".Đó là với
máyảnh thông thường. Nhưng khi dùng những máyảnh khổ lớn, hayống kính có chức
năng tilt thì việc thayđổi mặt phẳng nét thật dễ dàng, người chụp có thể khiến
mặt phẳng nét không còn song song với biênảnh nữa.
Ảnh:
~jjohn~ |
2. Vận dụng tiêu cự
Tiêu cự càng dài, vùng
ảnh rõ càng mỏng. Vì vậy, khi muốn chọn để có bokeh hậu cảnh tốt,
người ta thường dùng ống kính tele nhiều hơn
. Những tiêu cự thông dụng
của ống tele thời cuối thế kỷ XX ở khoảng
85mm-135mm,
thường được gọi là
portrait lens. Ngày nay, việc chọn ống kính chụp
chân dung thay đổi khá nhiều, với độ đa dạng cũng rộng hơn. Người ta thường chọn
70-200mm (thông dụng nhất trong giới chuyên nghiệp),
hay 70-300mm (thông dụng nhất trong giới tài tử, vì không phải đầu tư
nhiều).
 |
|
Vận dụng trị số tiêu cự dài, kết hợp với
khẩuđộ mở lớn,để có vùngảnh rõ thậtấn tượng. Nơi mắt nhắm là cảm giác thật
mơ mộng, mộtbức "thiếu nữ ngủ ngày" hoàn hảo. Ảnh:
Andross |
3. Vận dụng điểm lấy nét
Điểm lấy nét càng gần, vùng ảnh rõ càng mỏng. Để có
được những bokeh đẹp, người ta thường chọn giải pháp chụp ở khoảng lấy nét gần
(như
chân dung, macro...). Đặc biệt, khi tiến vào
những khoảng cách thật gần (khoảng vài tấc, với tiêu cự trung bình khoảng
100mm), vùng ảnh rõ sẽ rất mỏng, cho dù có đóng nhỏ khẩu độ lại thì vùng ảnh rõ
cũng vẫn hết sức mỏng
.
 |
|
Ở khoảng cách lấy nét thật gần, vùngảnh rõ
cực mỏng, cho dù khẩuđộ chụpđangđóng nhỏ (như f/11), và hậu cảnh vẫn bị xóa
nhòe gần như chỉ còn cảm giác về các mảng màu mà thôi,để thấy đó là thiên
nhiên, là tươi mát...Ảnh: aussiegall |
4. Vận dụng kích thước cảm biến
C
ảm biến càng lớn, sẽ cho vùng ảnh rõ càng
cạn, cảm biến càng nhỏ thì vùng ảnh rõ càng sâu. Để có được bokeh
đẹp, người ta có khuynh hướng chọn những máy có kích thước cảm biến lớn, bằng
hay lớn hơn kích thước khổ phim 135. Những máy ảnh compact, với kích thước cảm
biến khoảng 10mm (đường chéo), khó có thể tạo được bokeh mong muốn.
 |
|
Với góc nhìn củaống kính góc rộng, nhưng khi
mở lớn khẩuđộ, vàđiểm lấy nét gần (nơi trụđèn) thì vẫn tạođược mộtấn
tượngnhư là sương khói, như một ngày mới, và những bước chân thong dong, gợi
nên cảm giác thư giãn, thoải mái...
Ảnh: David
Wetty |
5. Vận dụng những bộ lọc
Việc gắn những bộ lọc phía trước ống kính, với những hình dáng định trước, sẽ
giúp thể tạo được những tác dụng nhất định đến bokeh nơi hậu cảnh. Đã từng có
thời, người ta dùng nó như những filter effect, nhưng nay thì không còn thấy
nữa.
 |
|
Khi chọn góc độ ngay giữa, rồi vùng ảnh rõ
cực mỏng thế này, sẽ khiến người xem hình dung tư thế người chủ, tư thế mạnh mẽ,
tự tin đi tới... Ảnh: conorwithonen |
6. Vận dụng góc nhìn
Cần hết sức quan tâm đến
những biến thiên của bokeh nơi hậu
cảnh để có thể
"đặt" chúng ở những vị trí thích hợp trong
khuôn hình, nhằm bổ sung
tính biểu cảm của hậu cảnh.
Đôi khi, người ta có thể xem những bokeh này như "chủ thể" để thể hiện những cảm
xúc, hay ấn tượng nào đó củatâm tìnhriêng tư.
 |
|
Khi chọn chủ thể là chiếc tách, người chụp
muốn nhấn mạnh đến yếu tố "chứa đựng trong đó", và khi đưa chiếc tách ra, như
đểhứng đựng hết những lung linh, vui vẻ, hay hào quang.Cũng có thể hiểu theo
hướng như từ trong tách bốc tỏa ra làm lung linh bối cảnh, như sự chia sẻ hạnh
phúc với mọi người...
Ảnh:
Shermeee |
Người ta có thể vận dụng thủ pháp này như một
"phong cách thể
hiện", và thực sự đã từng có những trường phái được ra đời như thế.